Sự kiện trong ngày
Việt Nam, đất nước tôi
Trang chủ Ký sự - Phóng sự
Mối tình đẹp ly kỳ nhất "Làng Phong"
thứ tư, 23/04/2008, 05:41 (GMT + 7)

Đã có một thời kỳ rất dài, những người bị bệnh phong trở thành mỗi khiếp đảm của cộng đồng. Ngày ấy, họ bị đuổi khỏi làng, bị xua vào những cánh rừng thâm u, sống như dã thú, hoặc bị bỏ trôi sông. Thậm chí, tàn bạo hơn, người ta còn chôn sống những bệnh nhân phong, với một nỗi kinh hãi còn khủng khiếp hơn cả việc chôn cất dịch cúm gia cầm hay dịch lợn tai xanh bây giờ.

Ngôi chùa nhỏ, tĩnh lặng trong khuôn viên trại phong Quả Cảm, mà bà Mão cùng nhiều bệnh nhân cao tuổi thường lui tới

Song chỉ cách nay vài ba chục năm thôi, khi khoa học đã chứng minh được rằng bệnh phong không phải bệnh nan y, rất khó lây và hoàn toàn có thể chữa khỏi, thì những bệnh nhân phong vẫn bị khinh miệt đến không thể ngóc đầu lên được. Họ vẫn phải sống và điều trị tập trung trong những “trại”. Và, để tránh sự kỳ thị, người ta đã dần đổi tên những “trại” này bằng một cái tên dễ nghe hơn như Khu điều trị phong hoặc Bệnh viện da liễu. Thế nhưng, cái “tiếng” bệnh phong vẫn đeo bám dai dẳng, hết thếhệ này đến thế hệ khác, khiến rất ít người bệnh (dù đã khỏi) hoặc con cháu họ dám rời khỏi khu điều trị của mình ra bên ngoài.

Thế nhưng, dù ở trong hoàn cảnh khó khăn nhất, tối tăm nhất, thì tình yêu và lòng nhân ái của những người tưởng như đã mắc án chung thân trong những khu điều trị ấy vẫn nảy nở, được vun trồng, rồi đơm hoa kết trái. Với những bệnh nhân phong, tình yêu đã giúp họ vượt qua mọi bất hạnh cuộc đời. Nó minh chứng cho tình người, cho lòng nhân ái mà không phải người bình thường nào cũng có được. Nghĩ về những tình yêu ấy, nhiều lúc chúng tôi cứ nghĩ đó như một thứ “vàng mười”, thật khó kiếm tìm trong đời sống đầy vật chất và tỵ hiềm trong thế giới của chúng ta.

“Nhà” vợ chồng ông Đoàn Hữu Vinh nằm ngay đầu dãy nhà cấp bốn, cứ hun hút buồn. Gian phòng nhỏ hẹp, chỉ rộng chừng mười mét vuông, cũng giống với bao gian phòng khác của rất nhiều cặp vợ chồng ở Bệnh viên Phong và Da liễu Quả Cảm (xã Hòa Long, Thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh). Có điều, gian phòng của cặp vợ chồng già thuộc loại bậc nhất trung tâm này lúc nào cũng giòn giã tiếng cười. Và có một điều kỳ lạ là cho đến khi đã sống đến gần bách niên giai lão, con cháu đề huề, nhưng mỗi khi gặp khách, hai vợ chồng già lại bắt đầu kể về mối tình tuyệt đẹp một thời của mình.

Phải bỏ trại vì dám… sinh con

Năm nay ông Đoàn Hữu Vinh đã 83 tuổi. Ông kể, quê ông ở huyện Kiến An, Hải Phòng, nhưng đã lâu lắm rồi, với ông, trại phong Quả Cảm, nơi ông đã gắn bó gần như trọn cuộc đời và trở thành quê hương thứ hai của ông.

Cho đến bây giờ, ông cũng không nhớ mình vào trại phong Quả Cảm từ khi nào nữa, bởi thời điểm ấy đã lâu lắm rồi. Ông còn nhớ, năm giặc Pháp còn chiếm đóng, nạn đói khủng khiếp diễn ra, ông đã bỏ trại nhập vào đoàn biểu tình kéo lên tận thị xã Bắc Ninh để đòi có bát cơm ăn. Nếu tính đến thời điểm tên giặc Pháp cuối cùng rút khỏi Việt Nam thì ông Vinh cũng đã hơn 50 năm sống ở trại phong này rồi.

Ông Vinh kể, ngày ấy, chưa nói đến ngoài xã hội mà ngay trong trại phong, bệnh phong vẫn còn là một cái gì đấy rất ghê gớm. Ngày đó, các bệnh nhân nam và nữ thường bị cách ly, và nhất là vào các buổi tối, sau khi tiếng kẻng vang lên, cũng là lúc “lệnh giới nghiêm” có hiệu lực, bệnh nhân ở khu nào phải về đúng vị trí của mình. Nếu ai lỡ yêu ai đó, rồi sinh con thì nhất định sẽ bị đuổi ra khỏi trại. Mà, với bệnh nhân phong, bị đẩy ra ngoài là một nỗi sợ không gì có thể miêu tả nổi. Chính nỗi sợ hãi đó đã khiến nhiều bệnh nhân ở đây, dù rất mến nhau, nhưng nhiều người không đủ can đảm để đến được với nhau.

Nhưng trường hợp của ông Vinh và bà Mão thì lại khác. Mối tình của hai người đã trở thành một thiên tình sử mà bất cứ bệnh nhân nào ở trại phong Quả Cảm cũng biết, cũng thuộc làu làu. Bà Mão, năm nay đã 75, tóc đã trắng như cước, nhớ lại: “Phải thú thực là ngày ấy chúng tôi đến với nhau cũng khó khăn lắm, nhưng tuổi trẻ thì không tránh được, chú ạ. Khổ nỗi, ngày đó, việc sinh nở của bệnh nhân phong bị cấm. Bởi người ta còn sợ sinh con rồi sẽ lây bệnh sang con. Vì vậy, nếu ai vi phạm quy định, lỡ sinh con mà không cho được ai thì cũng bị đuổi ra khỏi trại”.

Chính vì nỗi sợ bị đuổi ra khỏi trại mà năm 1968, sau khi sinh đứa con đầu lòng, bà Mão đã phải đôn đáo tìm cho được người nhân hậu nào dám nhận đứa con của một người phong về làm con nuôi.

- Anh bảo, bị bệnh này khi ấy đi đâu cũng bị người ta tránh, người ta sợ và xua đuổi. Thậm chí, hồi tôi còn ở quê, ở làng Vân, huyện Việt Yên (Bắc Giang), tôi còn bị người ta đòi đem đi chôn sống thì làm sao dám rời khỏi trại, làm sao dám trở lại quê hương. Vì vậy, dù thế nào thì cũng phải tìm cách mà ở lại trại thôi. Bà Mão nói.

Thế nhưng, phải đi cho đứa con vào năm 1968 thì sang năm 1969, bà Mão lại có mang và sinh. – “Cho đến lúc đó (lúc đã có với nhau hai mặt con - PV), chúng tôi vẫn chưa dám công khai đâu chú ạ. Vẫn chỉ là đi lại “chui” thôi”. Vừa nói, bà Mão vừa nở một nụ cười tinh quái.

Lần này thì vợ chồng bà cương quyết giữ đứa con để nuôi. Chính vì thế, ngay sau đó, ông Vinh đã phải thu xếp đưa người yêu về quê, ở Hải Phòng sinh sống.

Vợ chồng ông bà Đoàn Hữu Vinh trong căn phòng hạnh phúc của mình

Bà Mão kể, ngày ấy, về Hải Phòng, vợ chồng bà còn xin cả một cái giấy có dấu đỏ của Trại phong xác nhận là bệnh nhân đã từng điều trị ở Trại về địa phương sinh sống. Mà, chính quyền ở đấy họ cũng tốt lắm, suy nghĩ của họ về bệnh phong này đã thông lắm rồi nên họ giúp đỡ vợ chồng bà rất nhiều. Thế nhưng, cuộc sống của gia đình người phong tại đấy cũng gặp vô vàn khó khăn. Để có tiền nuôi gia đình, ông Vinh phải đạp xe đạp đi bán thuốc lào khắp Bắc Ninh, rồi Bắc Giang, còn bà Mão, chỉ vừa kịp cai sữa cho con đã lại sinh thêm một đứa con trai nữa, thành thử, bà chỉ có mỗi một việc chăm sóc con đã mệt bở hơi tai.

Sau vài năm lăn lộn kiếm sống vất vả ở quê, do không được uống thuốc nên bệnh tình của hai vợ chồng ông Vinh lại phát. Thế là ông Vinh lại phải dắt díu vợ con lên trại Quả Cảm để xin vào điều trị, rồi ở đấy luôn cho đến bây giờ. Cho đến lúc ấy, vợ chồng ông Vinh là cặp vợ chồng đầu tiên, có con cái đề huề ở Trại phong. Tuy nhiên sau này, khi lệnh cấm bệnh nhân phong có con được xoá bỏ, nhiều gia đình bệnh nhân khác đã phá cái kỷ lục về sinh đẻ một thời của vợ chồng ông Vinh.

Gia tài tình yêu của người phong chính là con cái

Năm nay bà Mão đã 75 , nhưng bà vẫn có một trí nhớ minh mẫn đến kỳ lạ. Bà kể, bà sống ở Trại đến giờ đã chứng kiến sự thay đổi của 4 đời giám đốc rồi. Mọi thứ bây giờ khác quá. Nhưng ơn trời, vợ chồng bà vẫn khỏe mạnh và vẫn sống vui vẻ với nhau. Rồi bà lại kể, bây giờ, ba anh con trai của bà, đứa nào cũng đã trưởng thành, đủ lông đủ cánh và đang làm ăn ở bên ngoài, nhưng vợ chồng bà không muốn về ở với ai, mà nhất định chỉ sống ở trong Trại. Bà bảo, thôi thì già rồi, sống chết cũng ở đây thôi, chẳng chuyển đi đâu nữa.

Trước đây, khi còn sức khỏe, bà Mão vẫn đi khắp Trại phong, đến thăm những người bạn già, hoặc đi lễ chùa. Cách đây mấy tháng, đang đi trong nhà thì bị ngã đến trẹo cả chân nên giờ, bà chẳng đi được đến đâu. Suốt ngày bà chỉ quẩn quanh trong gian nhà khoảng mười mét vuông ấy. Ngay đến việc nấu cơm, rửa bát bây giờ, bà cũng không tự làm được nữa. Tất cả những công việc này, phụ thuộc hoàn toàn vào ông Vinh. Mà, những việc này thì ông Vinh cũng thông thạo lắm, chẳng bao giờ ông kêu ca. Nhiều lúc rỗi, buồn quá, ông lại vác chổi đi quét lá xà cừ về phơi để đun. Thành thử trong bếp của vợ chồng bà lúc nào cũng có vài bì lá xà cừ khô, tha hồ đun.

Trong gian nhà nhỏ của vợ chồng ông Vinh không có gì đáng giá ngoài chiếc đài catxet nhỏ mà ông bà vẫn chỉ dùng với một chức năng là nghe dự báo thời tiết và hai chiếc giường gỗ cũ kỹ, bạc mầu. Với cặp vợ chồng già đã “tri thiên mệnh” này thì con cái chính là một tài sản quý giá, rất đáng tự hào. Dù những đứa con, theo lời của bà Mão, anh thì đi làm thợ xây, anh thì vào Lâm Đồng đi hái cà phê thuê, kiếm được miếng cơm cũng rất khó khăn. Dù vậy, vợ chồng bà cũng hãnh diện, bởi việc con cái chúng ra được bên ngoài là mừng rồi, là hơn đứt những người mang hộ khẩu ở trại phong rồi…

Mặc dù đã sống với nhau trên 40 năm, con cái đề huề, nhưng ông Vinh bảo, vợ chồng ông chưa bao giờ có một mảnh giấy kết hôn. Trước đó, cả hai bên gia đình cũng chưa một lần gặp mặt để nhận dâu, nhận rể. Việc ông bà đến với nhau, rồi sống như vợ chồng hoàn toàn là tự nguyện. Ông bảo, ngày đó, việc cưới xin đơn giản chứ không có phức tạp như bây giờ. Nhất là với những người bệnh tật như vợ chồng ông thì chỉ cần hợp nhau là về sống với nhau, chứ chả cần nghi lễ hay ràng buộc gì cả. Không như bây giờ, nhiều người cưới xin đàng hoàng lắm, nhưng chỉ được vài ba tháng đã cãi nhau chí chóe, rồi dẫn nhau ra tòa ly hôn. Đó là bởi họ đã đến với nhau không xuất phát từ tình yêu, không có sự quý mến và tôn trọng nhau nên gia đình của họ mới tan vỡ sớm như vậy.

Đang ngồi nói chuyện rôm rả thì ông Vinh bất ngờ ra bật đài. Ông mở đài rất to, nhưng vẫn phải áp sát tai vào chiếc đài, như để nghe cho được rõ hơn. Trên đài khi ấy đang là một giọng nam cao thông báo những thông tin thời tiết trong ngày. Thấy vậy, bà Mão thở dài bảo, nhà chỉ có hai người già với cái đài là bạn. Vào buổi tối, ông bà ngủ rất ít, mắt cứ thức chong chong và rất muốn mở đài nghe kể chuyện đêm khuya, nhưng ông Vinh bị nghễnh ngãng, bà sợ mở đài lại ảnh hưởng đến hàng xóm. Vì vậy, cứ khi nào mất ngủ, ông bà lại rì rầm kể cho nhau nghe những chuyện về con cái, rồi về những đứa cháu trai, cháu gái của mình, cho đến khi nào buồn ngủ đến nhíp cả hai mắt thì câu chuyện mới tạm ngừng. Và, tôi cứ nghĩ, những câu chuyện mà vợ chồng ông bà Vinh đã kể cho nhau nghe trong những đêm mất ngủ triền miên của mình ấy, chính là đoạn kết “có hậu”, rất ấm áp của một câu chuyện tình đẹp nhất ở trại phong Quả Cảm này.

Theo Vietimes

  Đầu trang Gửi email  In trang  In bài  Gửi ý kiến
 
Xem tin theo ngày  Từ  Đến
 
Ngủ với tình cũ trước khi cưới
"Chuyện ấy" - Đâu cần phải tính giờ!
Tăng Thanh Hà làm cô dâu tóc ngắn
Coca-Cola “diệt tinh binh” hiệu quả số một!
Với anh, em là mãi mãi
Hiền Thục - "Bên cạnh tôi đã có một người"
Để nhìn, nghe và nhớ "Như cánh vạc bay"
Gu thời trang của Cẩm Ly
Những người mẹ thứ 2 của trẻ em nhiễm HIV/AIDS
Phận nghèo sau bão lũ
Ông chủ rừng ba lần mồ côi
“Tiến sĩ cao su” bỏ phố lên rừng
Món ăn kỉ niệm
Xóm gầm cầu
Người mang duyên nợ với trầm hương
Nghề bắt tróp tróp bên dòng Gianh
Vợ chồng son
Bí mật của cô tôi
Trang chủ :: Xã hội :: Công nghệ-Đời sống :: Thế giới :: Văn hoá :: Thể thao :: Tình yêu-Giới tính :: Việc làm