|
Hàng ngày, chúng ta đi qua nhiều cây cầu của TPHCM, nhưng ít ai biết được rằng, nhiều số phận thị dân đã thăng trầm theo số phận của cây cầu.
Xóm lao động dưới gầm cầu chữ Y
Cầu chữ Y tại quận 8 là một điểm nhấn khi nhắc tới TPHCM và chính là biểu tượng rất đỗi quen thuộc đối với nhiều người từ bao năm nay. Thế nhưng, phía dưới cây cầu này là bao phận người nghèo khổ, sống tầm gửi thân mình cùng năm tháng.
Bến Nụ Cây bắc ngang kênh Tàu Hủ thuộc phường 9 (Q.8)- nơi có những mảnh đời chung sống với vài trăm hộ dưới cầu chữ Y, có tên gọi này từ lâu lắm rồi. “Không ai biết tên gọi xóm này ra đời từ bao giờ”- Ông Lưu Văn Tâm, 53 tuổi, người đã có gia đình sống tận 4 thế hệ ở đây cho biết.
Trong căn nhà tồi tàn vách đất của mình giống như những căn hộ khác, ông Tâm dẫn tôi đi giới thiệu một vòng. Thật không ngờ, cách trung tâm thành phố không bao xa lại còn nhiều ngôi nhà tồi tàn như thế. Một bên dựa lưng vào kênh Tàu Hủ, bên kia hướng ra con hẻm nhỏ đầy đất đá lởm chởm.
Gọi là căn nhà cho oai, chứ thật ra, nó rộng chưa tới 20 mét vuông, mà đến chừng này tuổi, chủ nhân của nó vẫn “một mình lẻ bóng”. Ông Tâm tâm sự bằng một giọng nghèn nghẹn: “Nghèo quá, ai mà sống nổi với mình chú ơi!”.
Anh Nguyễn Văn Nhựt, 37 tuổi, chủ một căn hộ khác trong xóm gầm cầu ban ngày hành nghề xe ôm, còn vợ anh làm thợ may. Hai vợ chồng làm quanh năm suốt tháng vất vả kiếm tiền nuôi hai con, Nguyễn Lê Hoài Bảo, 5 tuổi và Nguyễn Lê Hoàng Tú, 2 tuổi.
Anh là một trong những người dân sống từ nhỏ ở đây và cũng chứng kiến mọi sự thay đổi trong xóm. “Đa số mọi người ở đây đều là dân lao động như nhà tôi, chủ yếu là chạy xe ôm, thợ may, thợ đụng… Thời gian trước, cư dân xóm này chuyển đi qua khu Đồng Diều (Q. 8) một số vì vướng phải giải tỏa, bà con khu này đều nghèo cả”.
Nghe anh Nhựt nói, nhìn quanh nhà anh chẳng thấy có gì quý giá, ngoại trừ chiếc xe máy Trung Quốc cũ kỹ. Cách đây vài năm, điện được kéo về nên xóm cũng đỡ khổ, duy chỉ có nước là phải mua từ ngoài vào với giá 10.000đồng/m3. Ngay như ông Tâm mỗi tháng cũng xài mất cả trăm nghìn đồng thì đối với gia đình anh Nhựt con số này lớn hơn nhiều. Đó chính là nỗi lo lớn nhất với xóm gầm cầu lúc này.
Điện nước là thế cho đến phương tiện nấu ăn hàng ngày cũng không đơn giản. Nhà nào khá dùng bếp gas bình rất hiếm, đa số dùng bếp dầu, than đá và bếp gas mini.
“Dẫu biết diện tích nhà nhỏ, nhưng phải xài than đá rất hôi hám vì nó rẻ nhất mà”- Chị Dung, một người dân trong xóm phân trần. Nhiều người dân cho biết, họ phải dùng bếp gas mini thường xuyên và thừa biết nguy cơ cháy nổ rất cao do gas được sang chiết trái phép. Họ vừa nấu vừa sợ nổ bất kỳ lúc nào.
Ngay cạnh khu dân cư đông đúc, phía sau là kênh Tàu Hủ nhiều rác hơn… nước là một nhóm hộ buôn bán vặt dưới gầm cầu. Mặc cho trên cầu, các phương tiện lũ lượt qua lại ở dưới người dân vẫn bán hàng hóa cho cư dân trong xóm hay những người đi đường tắt, men theo gầm cầu lên trên cho nhanh.
Người đàn ông lớn tuổi nhất làm nghề sửa giày dép tên là Nguyễn Hòa Vũ ngáp ngắn ngáp dài bảo khách lạ: “Ế quá chú ơi, sáng giờ mà không có khách nào cả, tối chưa biết lấy gì mà nhét vào bụng cả nhà đây”.
Thông thường, anh Vũ cũng làm được 4-5 đôi giày mỗi ngày khi thì đánh xi, lúc làm đế nhưng dạo này giày mới giá rẻ quá nhiều, ít người đến tìm anh nữa nên việc làm ăn cũng ế ẩm.
Ngồi cạnh anh Vũ sửa giày là cô bé chừng 14 tuổi chuyên bán cua, ghẹ. Nguyễn Thị Ánh Hồng mới học hết lớp 5 trường tiểu học Lý Thái Tổ, trên đường Tùng Thiện Vương (quận 8) đã phải nghỉ học giữa chừng, vì gia cảnh quá nghèo lại có tới năm anh chị em.
Ba Hồng chạy xe ôm không nuôi nổi em đến trường. Từ khi nghỉ học, mỗi sáng Hồng dậy thật sớm cùng mẹ ra chợ mua hải sản về chế biến và đem ra đây bán cả ngày. Anh Vũ chép miệng bảo: “Con bé đó học hành cao nhất nhà, chứ tụi em nó mới học lớp 2, lớp 3 là nghỉ thẳng luôn”.
Tối đến, Hồng lại đến lớp học tình thương của phường dành cho trẻ em nghỉ học sớm. “Cũng nhiều bạn giống như em, em sẽ cố học để không còn nghèo nữa”- Cô bé dáng người gầy gò tâm sự khi một chiếc xe máy vừa lao qua nhanh, bỏ lại đằng sau mịt mù bụi đường.
Những cư dân ở xóm gầm cầu chữ Y vẫn mong đến một ngày mai sẽ tươi sáng hơn, không còn những cảnh nhếch nhác như hiện nay nữa. Bà cụ Ba - một lão làng trong xóm vẫn chiều chiều chống gậy ra đầu xóm, nhìn về hướng trung tâm thành phố đang lên đèn với dòng xe cộ đông đúc mà bảo rằng: “Không biết khi nào xóm gầm cầu này mới sung túc như thế nhỉ?”.
Nhìn dòng kênh ngập ngụa rác, anh Dũng, một người dân làm nghề chạy xe ôm tại khu vực này nói: “Chụp ảnh, quay phim đến đây đủ cả, nhưng rồi cũng chẳng thấy gì đổi thay. Tôi chỉ mong dòng kênh xanh như ngày xưa để tụi con trai trong xóm tha hồ ngụp lặn. Còn bây giờ thì buồn thật…”. Anh bỏ lửng câu nói khi nhìn ra xóm gầm cầu buồn xơ xác và hắt hiu.
Thị dân cầu Đỏ
Cầu Đỏ hay còn gọi là cầu Sắt (cầu làm bằng sắt) mang trong mình những nét đặc biệt, bởi cầu Đỏ ghi lại những nét lịch sử từ sau ngày Sài Gòn được giải phóng. Thị dân dưới cầu Đỏ thuộc khu phố 5, phường 13 (Q. Bình Thạnh) bao gồm 3 con hẻm nhỏ 220, 230, 242 với chừng 20 hộ khẩu. Ở đây chất chứa bao nỗi nhọc nhằn.
Hết người này chuyển chỗ ở thì đã có người khác thế vai, hình thành nên một xóm lao động đa số có gốc gác từ miền Trung, hay từ tỉnh Long An lên lập nghiệp.
Bác tổ trưởng Trương Gia Ngọc, thường gọi là bác Tám là người có thâm niên sống ở đây lâu nhất từ sau giải phóng, cho biết: “Ngày trước, dân ít lắm, ai dè về sau cái xóm nhỏ này đông người hơn từ các nơi đổ về nên nhộn nhịp hẳn. Vì giá đất rẻ nên nhiều người mua ở đây và lập nghiệp”.
Ông Tám đã có hơn 10 năm làm tổ trưởng tổ dân phố và thấm hiểu nội tình từng nhà, chẳng thế mà khi hỏi ai là người sống trong xóm lâu nhất, những cư dân ở đây cho tôi biết đó là bác Tám. Cùng với thời gian, bác Tám bây giờ đã ngoài 60 với con cháu đầy đàn và đã thôi giữ chức tổ trưởng mới đây.
Người tổ trưởng kế nhiệm là anh Lê Phương Tùng, 48 tuổi, nhà ngay đầu xóm nhưng cũng chỉ mới chuyển về đây năm 1993. Tổ phó là chị Nguyễn Thị Minh Trang đã có hơn 30 năm sống tại quận Bình Thạnh, và 10 năm sống tại xóm quần cư này.
Thoạt đầu cứ tưởng, xóm quần cư sẽ rất phức tạp, nhưng khi tổ trưởng Tùng đưa tôi đi tham quan từng nhà thì chúng tôi lại có ý nghĩ khác: “Tuy là xóm lao động nhiều thành phần nhưng bà con yêu thương nhau lắm, tình hình an ninh trật tự thì không có gì đáng lo ngại” – Anh Tùng nói.
Thị dân trong xóm nhỏ này có nhiều người chọn cái ghe đậu dưới dòng kênh làm phương tiện kiếm cơm bằng nghề chở cát xây dựng, hay cũng có thể làm nơi tá túc mỗi tối.
Vài năm qua, có vợ chồng bác Sáu quê ở Vĩnh Long lên gia nhập xóm này. Suốt ngày cả hai vợ chồng lam lũ trong tập vé số dày cộm, tối đến hay khi nào hết vé, hai vợ chồng già lại về xóm và ra bờ kênh, nơi có chiếc ghe đang neo đậu.
Ngày mới lên, bác sáu còn thuê nhà trên bờ, nhưng giá càng ngày càng đắt, có một người quen bán lại chiếc ghe rách nát với giá 2 triệu đồng, thế là vợ chồng người bán vé số lấy tiền dành dụm mua luôn chiếc ghe để hàng tháng khỏi lo tiền nhà. “Được cái, vợ chồng bác Sáu hiền và tốt bụng nên ai cũng thương cả”- bác Tám giờ là cựu tổ trưởng khu phố cho biết.
Một quy hoạch treo đã được áp dụng tại khu vực này từ hơn 10 năm nay và lẽ dĩ nhiên, giống như các dự án “treo” khác, người dân không được xây cất nhà mới, mà chỉ được sửa chữa. Ngoài ra, không được bán, sang nhượng cho người khác.
Thế là nhiều ngôi nhà phải chịu sống trong cảnh xập xệ, nắng hay mưa thì cũng tồi tàn như nhau. Từ cầu Đỏ nhìn xuống, khu vực dưới cầu quá nhếch nhác. Trước mặt tôi là những ngôi nhà rách nát, cũ kỹ mà người dân dù muốn xây dựng lại cũng sợ vì nằm trong khu quy hoạch, lỡ xây lên bị đập thì cũng uổng công.
Điện nhà nước đã đưa vào tận xóm, nhưng thiếu nước. Bà con trong xóm biết bao nhiêu lần làm đơn lên phường, lên Cty cấp nước Gia Định xin đường ống dẫn nước về, nhưng đều bất thành. “Dạo trước Tết, có nhân viên Cty nước về hứa hẹn Tết vừa rồi sẽ có, nhưng đến giờ vẫn chưa có”- Bác Tám bức xúc cho biết.
Hiện tại, cả cụm dân cư này phải câu nước nhờ từ một hộ ngoài đường. Cũng vì câu nhờ như vậy nên tiền thất thoát nước rất nhiều. Nhiều người “đu” một đường ống dẫn từ ngoài đường vào sâu trong các con hẻm nhỏ nên nước rất yếu.
Chị Hằng- một người dân trong xóm nói: “Gia đình tôi gồm bốn người, quần áo thì giặt ngoài tiệm, chỉ có lo hứng nước vào 1-2 h sáng thì mới có nước dùng”. Một bộ phận khác thì phải xách xô lên bến xe miền Đông, cách đó gần 2 km để mua nước.
Nước vẫn là mối lo thường trực của xóm cư dân, bởi ngày nào không có nước, ngày đó người dân còn khổ. Nhiều hôm không có nước, người dân gọi điện lên Cty cầu cứu, Cty cũng cho một xe téc nước, nhưng chỉ là giải pháp tình thế, chẳng bõ bèn gì đối với nhu cầu của thị dân cầu Đỏ mỗi ngày.
Tôi rời xóm cầu Đỏ ra về cũng trong một chiều tháng 9 mưa tầm tã. Chỉ nghe tiếng lao xao của các em học sinh là con của những người nhập cư làm không khí xóm dưới cầu này như nhộn nhịp hẳn lên. Trong đôi mắt sáng trong kia, ánh lên bao tia hy vọng về một tương lai của cái xóm thiếu đủ thứ này, dù nó nằm cách trung tâm thành phố không xa lắm.
Theo TPO
|