|
Việc Thủ tướng Iraq al-Maliki đòi Washington đề ra lịch trình cụ thể rút toàn bộ quân đội Mỹ đã báo hiệu thất bại gần như chắc chắn của chính quyền Bush trong việc thiết lập sự hiện diện quân sự lâu dài ở nước này.
Yêu cầu của phía Iraq chính thức yêu cầu Mỹ rút quân đã chứng thực cái điều ngày càng rõ nét trong những tháng gần đây: chính quyền Iraq đã quyết định từ bỏ sự phụ thuộc vào Mỹ về quân sự. Hai nhóm Shiitte thân Iran và là điểm tựa của chính quyền Iraq là Hội đồng Hồi giáo Iraq (SIIC) và Đảng Dawa của Thủ tướng al-Maliki hiện đang phải chịu sức ép rất lớn từ phía dân chúng và các giáo sĩ dòng Shiitte, trong đó có cả Đại giáo chủ Ayatollah Ali Sistani, đang đòi Mỹ rút quân.
Chính quyền Bush đã nghi ngờ lòng trung thành của hai nhóm Shiitte này, hai nhóm cố giảm thiểu sự kiểm soát của Mỹ đối với Bộ Nội vụ và cảnh sát trong những năm 2005 và 2006. Tuy nhiên, năm ngoái Washington đã hi vọng về mức độ hợp tác mới với Thủ tướng al-Maliki để đương đầu với kẻ thù chung là Quân đội Mahdi, lực lượng vũ trang của giáo sĩ Moqtada al-Sadr. Sự hợp tác này chặt chẽ tới mức Nhà Trắng đôi lúc đã chấp nhận lý lẽ của của Thủ tướng al-Maliki rằng Iran đã kiềm chế Quân đội Mahdi và ép giáo sĩ Sadr phải đơn phương ra lệnh ngừng bắn hồi tháng 8/2007.
Tháng 11/2007, Tổng thống Bush và Thủ tướng al-Maliki đã đồng ý về một loạt nguyên tắc làm cơ sở cho thỏa thuận song phương mới, trong đó có việc đóng quân của các lực lượng Mỹ, và tháng 2/2008, người ta đã lên kế hoạch liên quân Mỹ-Anh-Iraq quét sạch lực lượng của Sadr tại thành phố Barsa.
Nhưng khi dự thảo thỏa thuận được trình chính phủ Iraq ngày 7/3, chính phủ của Thủ tướng al-Maliki đã đột ngột thay đổi thái độ, đúng vào lúc Iran ngày càng bộc lộ vai trò trong các thỏa thuận ngừng bắn giữa hai lực lượng Shiitte thù nghịch. Dấu hiệu thay đổi đầu tiên là việc Thủ tướng al-Maliki từ chối làm theo kế hoạch đã được vạch ra và đột ngột giành quyền kiểm soát thành phố Barsa, qua trung gian thỏa hiệp Iran, khi quân đội của al-Sadr còn lâu mới bị đánh bại. Quân đội Mỹ rất bực bội khi phải hủy bỏ một chiến dịch lớn và một quan chức quốc phòng cao cấp đã phàn nàn với tờ "Thời báo New York" rằng Mỹ đã bỏ lỡ cơ hội "để tiêu diệt những kẻ đáng phải tiêu diệt".
Một dấu hiệu thay đổi khác là đầu tháng 5/2008, Thủ tướng al-Maliki từ chối hợp tác với Phó Tổng thống Dick Cheney và Tướng Patraeus nhằm lên án Iran vũ trang cho các lực lượng người Shiitte chống chính phủ ở miền Nam. Vị thủ tướng này còn làm quan chức Washington phẫn nộ khi thành lập một ủy ban điều tra những cáo buộc chống Mỹ. Tệ hại hơn, phái đoàn Shiitte được cử tới Tehran đáng ra để phản đối các hành động cung cấp vũ khí lại trở về với một chiến lược mới của Iran liên quan tới lực lượng Sadr.
Quyết định đặt các lực lượng Mỹ ra ngoài cuộc xung đội nội bộ giữa những người Shiitte đồng nghĩa với thái độ cứng rắn hơn trong thương lượng các thỏa thuận quân sự và hợp tác. Chính quyền al-Maliki đã từ chối việc để cho quân đội Mỹ sử dụng các căn cứ trên lãnh thổ Iraq một cách vô thời hạn và không cần tham vấn chính phủ sở tại hay quyền miễn truy tố của binh sĩ Mỹ, vì cho rằng những điều này vi phạm chủ quyền.
Phản kháng bất ngờ của Baghdad phản ánh ảnh hưởng sâu đậm của Iran đối với chính phủ al-Maliki. Iran từng nhắc nhở Iraq về liên minh của các chính quyền Hồi giáo dòng Sunni thân Mỹ trong khu vực và về vạch đỏ trong quan hệ láng giềng là việc để Mỹ sử dụng căn cứ tại Iraq đe dọa Iran, cũng như tuyên bố của giáo sĩ Sadr rằng ông có thể giải phóng Iraq khỏi sự chiếm đóng của Mỹ thông qua con đường chính trị ngoại giao hơn quân sự.
Việc chính phủ Iraq yêu cầu Mỹ rút quân cho thấy rõ ràng rằng chính quyền Bush không thực sự kiểm soát được các diễn biến ở Iraq cũng như các lực lượng chính trị đối lập Shiitte và chính sách ngoại giao Iran có thể lấn át sức mạnh quân sự Mỹ tại nước này. Xem ra đó là thất bại cuối cùng của chính quyền Tổng thống Bush trước khi họ phải ra đi vào đầu năm sau.
K.V
Theo IPS |